Gợi ý ngẫu nhiên (10 bài thuốc)
NGỌC CHÂN TÁN
BÁN HẠ TẢ TÂM THANG
« Thương hàn luận »
- Bán hạ 6-12 gam
- Hoàng cầm 6-12 gam
- Can khương 4-6 gam
- Nhân sâm (hoặc Đảng sâm) 8-16 gam
- Cam thảo (nướng) 4-8 gam
- Hoàng liên 4-6 gam
- Đại táo 4-6 quả
Ngày dùng một thang, đun sắc chia 2 lần uống.
Hòa vị giáng nghịch, khai bế tán đầy.
Chức năng tràng vị rối loạn, hàn nhiệt kết lại với nhau, dưới vùng tim đầy cứng nhưng không cảm thấy đau, bụng sôi hạ lợi, buồn nôn, không thích ăn uống, rêu lưỡi nhờn mà hơi vàng.
Bài này là Tiểu sài hồ thang bỏ Sài hồ, Sinh khương mà thêm Hoàng liên, Can khương, có tác dụng hóa thấp nhiệt, hòa tràng vị là cách chữa vừa tân khai khổ giáng, hàn an tịnh dụng, bổ tả kiêm thi. Chữa các chứng thấp nhiệt lưu ở trung tiêu, tràng vị tiêu hóa thất thường, hàn nhiệt xen kẽ, hư thực đều có.
Bán hạ, Can khương tân ôn có tác dụng tán hàn, hóa ẩm, Hoàng cầm, Hoàng liên khổ hàn có tác dụng tiết nhiệt, táo thấp, dùng cả vị tân và khổ, có giáng nghịch, ngừng nôn, tiêu đầy Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo, ích khí hòa trung khiến hàn nhiệt đều điều hòa, tràng vị hòa, thăng giáng bình thường thì đầy cứng, nôn mửa, hạ lợi đều được giải.
Bài này nếu bớt can thường dùng Sinh khương thì gọi là Sinh khương tả tâm thang, gia Sinh khương để tán thủy khí, thai nôn mửa. Bài này tăng thêm lượng Cam thảo tả tâm thang, tăng thêm Cam thảo mục đích để bổ ích trung khí, chữa trị khí hư nhược, khí kết thành đầy hơi, cách chữa cơ bản giống bài thuốc này.
Ngày nay dùng Can khương 12 gam, Hoàng liên 1 gam, Hoàng cầm 8 gam, Cam thảo 6 gam, để chữa bệnh hoắc loạn thổ tả: Nếu người mắc chứng hàn nặng, Can khương tăng gấp đôi, người mắc chứng nhiệt nặng, Hoàng liên hoặc Hoàng cầm tăng gấp đôi, người bị nôn mửa nặng gia Bán hạ 3 gam, Sinh khương 12 gam, người bị tứ cho chi hàn lạnh nặng gia phụ tử 13-24 gam. Người đi tiểu tiện ít hoặc bế gia tướng quân can (tức Thiền thoái bỏ cẳng, cánh) 5 con, Thông thiên thảo 12 gam, người bị buồn bực nặng gia Sơn chi tử 12 gam, Đậu cổ 16 gam, chuyền gân gia Tàm sa 12 gam, Ý dĩ 40 gam, người bị đau bụng dữ dội gia Ngô thù 1 lạng, rêu lưỡi nhờn gia Hậu phác 26 gam, Thương truật 12 gam, tùy theo chứng bệnh mà gia giảm sẽ điều trị có kết quả, ý nghĩa bài thuốc tương tự như bài thuốc này.
PHÒNG PHONG THÔNG KINH TÁN
TAM CAO THANG
« Hòa tễ cục phương »
- Ma hoàng 4-12 gam
- Hạnh nhân 12 gam
- Sinh thảo 4 gam
Ngày 1 thang sắc nước chia 2 lần uống.
Tuyên phế, bình suyễn, chỉ khái. Chủ trị: Cảm mạo phong hàn, ho, khí suyễn.
Ma hoàng tân ôn phát tán, tuyên phế bình suyễn là chủ dược. Hạnh nhân giáng khí, nhuận phế, chỉ khái, giúp Ma hoàng bình suyễn. Sinh cam thảo thanh phế khí, lợi yết hầu. Do cảm mạo phong hàn phế khí bất tuyên dẫn đến khái suyễn thì trên cơ sở phương này mà tùy chứng gia giảm.
HÀ XA ĐẠI TẠO HOÀN
« Ngô cầu phương »
- Tử hà xa 1 bộ
- Thiên môn 1,2 lạng
- Quy bản 2 lạng
- Ngưu tất 1,2 lạng
- Thục địa 2,5 lạng
- Đỗ trọng 1,5 lạng
- Nhân sâm (hoặc Đẳng sâm) 1 lạng
- Hoàng bá 1,5 lạng
Hiệu thuốc có thuốc hoàn chế sẵn, ngày dùng 12-16 gam, sáng tối 2 lần uống với nước muối nhạt.
Đại bổ âm dương khí huyết, chủ yếu là ích âm, thêm tinh bổ huyết.
Mọi bệnh lâu ngày hư tổn, như phế thận âm hư, người gầy mòn, ho, sốt cơn, tự ra mồ hôi, mồ hôi trộm, người già suy nhược, tinh huyết không đủ mệt mỏi vô lực, lưng gối bủn rủn, đi lại không dễ dàng, các chứng thận viêm mạn tính và hen suyễn, các bệnh khác đã ổn định cũng dùng phương thuốc này để bồi dưỡng cơ thể.
Bài này lấy Tử hà xa làm thuốc chính, đại bổ nguyên khí, thêm đủ tinh huyết, là phương thuốc đại bổ âm dương khí huyết. Nhưng nhìn cả bài thuốc mà phân tích thì Quy bản, Thục địa, Thiên môn, Mạch môn bổ âm huyết là những vị thuốc phối hợp chủ yếu nên lấy bổ âm huyết làm chính, Nhân sâm dùng ở đây là lấy tác dụng ích khí sinh tân, sau khi ghép thêm 2 vị Mạch môn Thiên môn dưỡng âm thanh phế thì tác dụng của nó thiên về bổ khí âm. Đồ trọng, Ngưu tất dùng để bổ can thận, mạnh thêm lưng gối, Hoàng bá dùng để tả hỏa, vì vậy, tổng hợp tác dụng của bài này là bồi bổ khí âm mà hòa tinh huyết, thanh phế tả hỏa mà làm mạnh lưng gối thích hợp với các chứng âm dương đều hư mà âm hư là chính, khí huyết suy nhiều mà tinh huyết không đủ là chính. Các vị thuốc mà bài này dùng thường là nhuần nhị nên những người đường ruột, đường tiêu hóa kém nên dùng ít hoặc không dùng, hoặc kết hợp dùng cùng thuốc kiện tỳ vị.
TỪ CHU HOÀN
Chu sa 40 gam
Lục khúc 160 gam
KIỆN TỲ ÍCH KHÍ THANG (Tứ quân tử thang)
(Tên cũ: Tứ quân tử thang) (Phụ: Đạo công tán, Kiện tỳ hóa đàm thang, Kiện tỳ hòa vị thang, Kiện tỳ nhu can thang, Sâm linh bạch truật tán, Thật vị bạch truật tán) « Hòa tễ cục phương »
- Nhân sâm (hoặc Đẳng sâm) 8-12 gam
- Bạch truật 8-12 gam
- Phục linh 12 gam
- Chích cam thảo 4 gam
Ngày dùng 1 thang, đun sắc chia 2 lần uống.
Kiện tỳ vị, ích khí hòa trung.
Tỳ vị hư nhược, khí hư bất túc, mệt mỏi rã rời, mặt vàng người gầy, ăn uống giảm sút, đại tiện lệt xệt, mạch mềm yếu, rêu mỏng tráng. Người thể hư, sau khi ốm không điều hòa hoặc bị bệnh lâu mà có chứng nói trên đều dùng được.
Bài này thường dùng trong lâm sàng là phương thuốc cơ sở của kiện tỳ ích khí, nhiều bài thuốc kiện tỳ bổ khí khác, thường từ đây mà biến hóa. Bài này dùng Nhân sâm bổ khí và Bạch truật kiện tỳ vận thấp phối hợp với nhau là thành phần chủ yếu, Phục linh thẩm khô giúp Bạch truật kiện tỳ vận thấp, Cam thảo cam bình giúp Nhân sâm ích khí hòa trung. Tác dụng cửa toàn bài, bổ khí mà không trệ thấp, thúc đầy cơ năng vận hóa của tỳ vị, khiến ăn uống tăng lên, có lợi cho việc khôi phục sức khỏe. 4 vị thuốc mà bài thuốc chọn, dược tính bình hòa, có thể dùng lâu được không gây tác dụng xấu. Cho nên “cục phương” gọi là “Tứ quân tử thang” để nói lên tác dụng bình hòa của nó. Bổ khí và kiện tỳ, trong cách chữa và dùng thuốc của đông y, tuy có sự phân biệt nhất định (như dùng sâm, kỳ bổ khí, truật, linh kiện tì) nhưng khí hư và tỳ hư thường có quan hệ mật thiết với nhau, thường là nhân quả của nhau, cho nên trong hai cách chữa bổ khí và kiện tỳ thường vận dụng phối hợp với nhau. Do tỳ vị là “gốc của hậu thiên” cơ năng vận hóa của tỳ vị là nguồn sinh hóa khí huyết của người ta cho nên giỏi chữa khí hư thường từ bắt tay vào kiện tỳ trước. Đồng thời do vận hóa của tỳ vị không điều hòa, không nghiền kỹ được thủy cốc thật tinh vi cho nên lúc chữa tỳ vị hư nhược phải có thuốc bổ khí giúp thêm mới giúp được tỳ vị vận hóa. Sâm, Kỳ vốn thường dùng, lúc cần gia thêm Phụ, Quế để ôn vận tỳ dương. Bài này dù dùng Nhân sâm, Cam thảo bổ khí, Bạch truật, Phục linh kiện tỳ phối với nhau là xử lý theo khí hư, tỳ hư có quan hệ mật thiết với nhau, thích hợp cho người tỳ hư khí nhược. Nhưng do sự vật phát triển thường không cân bằng trong lâm sàng có lúc nặng về khí hư, có lúc nặng về tỳ hư thêm cả khí trệ, có người thiên về thấp đàm nên lúc dùng bài thuốc này cần căn cứ bệnh tình nặng nhẹ hoãn cấp mà chú trọng kiện tỳ hoặc chú trọng bổ khí mới chữa trúng bệnh để thu hiệu quả tốt.
- Dị công tán: Là bài thuốc này gia Trần bì. Do Trần bì là thuốc chính để lý khí hành khí sau khi phối hợp với Sâm, Truật, tăng thêm tác dụng kiện tỳ, hòa vị, lý khí nên thích hợp với người bệnh tỳ vị hư nhược mà khí trệ không sướng. Thường dùng chữa trẻ em tiêu hóa không tốt.
- Kiện tỳ hóa đàm thang: (Tên cũ: Lục quân tử thang) tức là bài này gia Trần bì, Bán hạ cũng là Nhị trần thang (Bán hạ, Trần bì, Phục linh, Cam thảo) gia Sâm, Truật. Bán hạ, Trần bì là thuốc chính táo thấp hóa đàm sau khi phối hợp với bài này trở thành phương thuốc tiêu biểu về kiện tỳ hóa đàm. Trong lâm sàng thường dùng cho người bệnh tỳ vị hư nhược mà đàm thấp, viêm chi khí quản mạn tính, đường tiêu hóa mất chức năng điều hòa.
- Kiện tỳ hòa vị thang: (Tên cũ: Hương sa lục quế quân tử thang) tức Kiện tỳ hóa đàm thang gia Mộc hương (hoặc Hương phụ), Sa nhân. Các vị thuốc gia thêm đều có mùi thơm làm tĩnh bì, hòa vị sướng trung, điều lý khí cơ. Bài này trọng điểm là hòa vị sướng trung chữa các chứng tỳ vị hư nhược, vùng bụng đau lâm râm hoặc ngực tức khò khè, nôn mửa hoặc bụng sôi đại tiện lỏng.
- Kiện tỳ nhu can thang: (Tên cũ: Quy thược lục quân tử thang) tức Kiện tỳ hóa đàm thang gia Đương quy, Bạch thược. Đương quy, Bạch thược là vị thuốc chủ yếu dưỡng huyết nhu can; sau khi gia vào bài thuốc này trở thành phương thuốc cùng chữa can tỳ, điều hòa khí huyết, chữa các chứng khí huyết không đủ, can tỳ cùng có bệnh, toàn thân hư nhược, ăn uống giảm sút, ngực tức bụng chướng, thăng hỏa, ít ngủ. Thường dũng chữa chứng viêm gan mạn tính gan bị xơ cứng sớm, kinh nguyệt không đều và các bệnh mạn tính khác đã nói ở trên. Nếu thấy lưỡi đỏ mà rêu ít có thể bỏ Bán hạ tức là Quy thược dị công tán để khỏi quá tân táo mà tồn thương âm dịch.
- Sâm linh Bạch truật tán: Tức bài này gia Biển đậu, Sơn dược, Hạt sen, Kiết cánh, Ý dĩ, Sa nhân; có bài còn gia Trần bì, những vị thuốc được gia thêm phần lớn là tu dưỡng tỳ vị lý khí hóa đàm, trị tỳ phế khí hư, sức yếu khí ít, ăn ít đại tiện lỏng hoặc ho đờm lâu là phương thuốc tiêu biểu về dưỡng tỳ bổ phế.
- Thất vị Bạch truật tán: Tức bài này gia Cát căn, Hoắc hương, Mộc hương. Do gia thêm Cát căn thang đề chỉ tả, Hoắc hương có mùi thơm hóa thấp, Mộc hương điều khí sướng trung nên chuyên trị tỳ hư tiết tả nhất là với trẻ dùng càng tốt.
ĐỞM ĐẠO BÀI THẠCH THANG
BẠCH ĐẦU ÔNG THANG
(Phụ: Bạch thược thang, Khuẩn lỵ thảo dược phương) « Thương hàn luận »
Ngày dùng một thang, sắc nước chia 2 lần uống.
Thanh thấp nhiệt, lương huyết, giải độc, chỉ lỵ.
Đi lỵ viêm tràng, đại tiện ra máu, lý cấp hậu trọng lỗ đít nóng nát.
Bài này dùng Bạch đầu ông để thanh nhiệt ở huyết phận, cùng với vị Tần bì để nhuận mát, 2 vị này là thuốc chủ yếu để lương huyết chỉ lỵ, gia thêm Hoàng bá, Hoàng liên để thanh thấp nhiệt giải độc, toàn bài nhằm thanh lý nhiệt, là bài thuốc chuyên dùng chữa kiết lỵ, hiệu quả tốt.
Người đau bụng lý cấp hậu trọng có thể gia Mộc hương, Chỉ xác, Binh lang, người ăn uống bị trệ có thể gia Sơn tra, Thần khúc; người mắc biểu chứng có thể gia Kinh giới; người hư nhược hoặc bị bệnh lỵ lâu ngày âm bị thương tổn, có thể gia Cam thảo, A giao; ngoài ra, có thể dùng Hoàng liên thay cho các vị thanh nhiệt giải độc khác như Hoàng cầm, Ngân hoa v.v…
- Thược dược thang:
Gồm các vị Hoàng cầm, Hoàng liên, Xích thược, Đương quy, Đại hoàng, Binh lang, Cam thảo, Mộc hương, Nhục quế.
Chữa bệnh lỵ, đại tiện ra máu nhờn, đau bụng, lý cấp hậu trọng. Bài này dùng 3 vị hoàng để tả giải độc, khử trệ, dùng Xích thược, Đương quy, Nhục quế phụ trợ để hành huyết, “hành huyết thì đi đại tiện ra máu nhờn sẽ giảm”; Mộc hương, Binh lang điều khí, “điều khí thì hậu trọng sẽ trừ”. Cam thảo có tác dụng điều hòa các vị thuốc và giảm đau.
- Khuẩn lỵ thảo dược phương:
Gồm 3 vị Thiết nghiễn thái, Địa cẩm thảo, Phong vĩ thảo mỗi thứ một lạng.
Có thể thanh thấp nhiệt, lương huyết, giải độc chữa các chứng bệnh lỵ có vi trùng, viêm tràng, phát nhiệt, đau bụng đi tả, đại tiện ra huyết nhờn, lý cấp hậu trọng.