Gợi ý ngẫu nhiên (10 bài thuốc)
TAM TỬ THANG (TAM TỬ DƯỠNG THÂN THANG)
Bạch giới tử 8 gam
Lai phục tử 12 gam
CHỈ THỰC ĐẠO TRỆ HOÀN
TIÊU UNG THANG
(Tên cũ là: Tiên phương hoạt mệnh ẩm) « Phụ nhân lương phương »
1. Sơn giáp nướng 12 gam
2. Thiên hoa phấn 12 gam
3. Sinh cam thảo 12 gam
4. Nhũ hương 12 gam
5. Bạch chỉ 12 gam
6. Xích thược 12 gam
7. Tượng bối 12 gam
8. Phòng phong 12 gam
9. Một dược 12 gam
10. Tạo giác thích 12 gam
11. Đương quy vĩ 12 gam
12. Trần bì 12 gam
13. Ngân hoa 40 gam
Mỗi ngày 1 thang sắc nước chia 2 lần uống.
Ôn dương khí thông kinh lạc, trừ đờm kết. Chủ trị: Bệnh lưu trú, hạc tất phong, đờm hạch, loa lịch, thoát thư và các loại bệnh ung thư thuộc về âm chứng, nơi có bệnh bình thản, sắc trắng hoặc ám (tối) không sưng, hoặc có khối sưng tản mạn.
Bản phương là phương thuốc chủ yếu thường dùng để chữa các chứng ung thương mới mắc. Phương do 3 loại dược vật hợp thành:
- Loại thuốc thanh nhiệt giải độc: Ngân hoa, Sinh cam thảo. Người xưa cho 2 vị này là “ung thư yếu dược” (thuốc cần thiết trị nhọc độc).
- Loại thuốc hoạt huyết hóa: Quy vĩ, Xích thược hoạt huyết hòa vinh; Nhũ hương, Một dược tán
- Loại thuốc tiêu thũng: Phòng phong, Bạch chỉ phát tán, Sơn giáp, Tạo giác thích cống kiên, Hoa phấn, Tượng bối, hóa đàm tán kết, Trần bì lý khí hành trệ. ứ định thống.
- Loại thuốc hoạt huyết hóa: Quy vĩ, Xích thược hoạt huyết hòa vinh; Nhũ hương, Một dược tán
Toàn phương có công năng thanh nhiệt giải độc hoạt huyết tiêu ung, gia thêm rượu vì “tửu năng hành dược tính”; khiến cho sức thuốc chóng tới nơi có bệnh. Phàm các chứng sang, thương (nhọt độc) mới mắc thuộc về dương, chứng dùng phương này, nếu chưa có mủ thì nhọt có thể tiêu; nếu đã thành mủ thì có thể bài ra. Nhưng khi mủ đã ra hết thì không nên dùng bài này nữa.
Sang thương đỏ, nóng đau nặng nên gia Tử hoa địa đinh, Bồ công anh, Liên kiều, Hoàng liên là các loại thuốc thanh nhiệt giải độc. Khối sưng phạm vi không lớn không sâu lắm, có thể bỏ Sơn giáp, Tạo giác thích, đại nhiệt đại khát thương tân nên bỏ Bạch chỉ, Phòng phong, Trần bì và rượu tức là các vị có tính ôn nhiệt.
THẠCH CAO TRI MẪU QUẾ CHI THANG, THẠCH CAO TRI MẪU THƯƠNG TRUẬT THANG, THẠCH CAO TRI MẪU NHÂN SÂM THANG
PHÚC NGUYÊN HOẠT HUYẾT THANG
- Sài hồ 6-12 gam
- Thiên hoa phấn 12-20 gam
- Đương quy 12 gam
- Hồng hoa 4-12 gam
- Cam thảo 4 gam
- Xuyên sơn giáp 8-12 gam
- Đại hoàng sao rượu 4-12 gam
- Đào nhân 8-16 gam
Cho thêm chút rượu tốt, sắc thuốc với nước chia 2 lần uống trong 1 ngày.
Sơ can thông lạc, hoạt huyết tán ứ, chỉ thống. Chủ trị: Các chứng ngã, đòn gây thương tổn, huyết ứ lưu kết ở ngực sườn, đau có chỗ nhất định, đau không chịu được.
Phương này là thuốc uống thường dùng trong khoa chấn thương, chủ trị huyết ứ đình trệ gây các chứng ngực sườn đau tức - Đương quy, Hồng đào, Sơn giáp, Đại hoàng hoạt huyết phá ứ là các thành phần chủ yếu của phương. Ngực sườn là nơi can kinh đi qua nên gia Sài hồ sơ can, dùng Thiên hoa phấn không phải để sinh tân nhuận táo mà chủ yếu để trị ứ huyết do đòn đánh ngã té (xem Bản thảo kinh - Cảnh nhạc toàn thư), Cam thảo hoãn cấp chỉ thống, ứ huyết hết thì tân huyết sinh, nên có tên gọi là PHÚC NGUYÊN.
Gia giảm: Trên lâm sàng thường gia Địa miết trùng (loài dán đất), Nhũ hương, Một dược, Huyền hồ để tăng cường hoạt huyết, khử ứ, lý khí, chỉ thống.
HOÀNG THỔ THANG
THIÊN MA CÂU ĐẰNG ẨM
(Phụ: Linh dương câu đằng ẩm) « Nghiệm phương »
Ngày 1 thang sắc nước chia 2 lần uống.
Bình can tức phong. Chủ trị: Can dương Thượng xung gây ra can phong nội động, huyễn vựng, đau đầu, đầu lắc, giật mình, mất ngủ.
Bản phương dùng Thiên ma, Câu đằng, Thạch quyết minh bình can dương, tức can phong, Sơn chi, Hoàng cầm tiết can hỏa. Tang ký sinh, Đỗ trọng, Ngưu tất bổ thận âm dưỡng can huyết, lại có tác dụng thông lạc. Dạ giao đằng, Chu phục thần dưỡng huyết an thần. Phương này có nhiều loại vị thuốc theo thực nghiệm dược lý có tác dụng hạ huyết áp. Gia giảm: Thạch quyết minh có thể dùng Trân châu mẫu thay thế, tác dụng gần giống nhau, Ích mẫu có thể đổi dùng Tiểu kế thảo, tác dụng đều tốt. Chóng mặt nhiều gia Hạ khô thảo, Bạch tật lê.
Linh dương câu đằng ẩm: Gồm Linh dương giác, Tang diệp, Xuyên bối, Sinh địa, Câu đằng, Cúc hoa, Sinh Bạch thược, Sinh Cam thảo, Tiên trúc nhự, Phục thần hợp thành tễ, có công năng lương can tức phong, thanh hóa đờm nhiệt. Nguyên phương này dùng chữa ngoại cảm nhiệt bệnh, nhiệt cực động phong, kinh quyết, chân tay co giật, lưỡi khô có gai. Các vị thanh nhiệt, giải độc lương huyết không đủ sức, dùng chữa chứng nhiệt cực động phong e rằng thuốc không tới bệnh. Nhưng đối chứng can dương Thượng xung gây đau đầu chóng mặt giật mình... thì phương này thanh tiết can dương khá tốt. Linh dương giác không thật cần thiết không dùng. Có thể dùng sơn dương giác hoặc Trân châu mẫu thay.
HUYẾT PHỦ TRỤC Ứ THANG
KHIÊN CHÍNH TÁN
« Dương thị gia tàng phương »
Bạch phụ tử, Cương tàm, Toàn yết đều bằng nhau. Các vị nghiền bột mịn trộn đều thành thuốc bột.
Mỗi lần uống 4 gam, với rượu nóng, cũng có thể sắc nước làm thang uống. Trong phương này, có vị Bạch phụ tử tính độc, không nên uống quá liều.
Khư phong đàm, chống kinh làm co quắp. Chủ trị: Mặt tê đau, mồm mắt méo xệch, gân cơ trên mặt máy động (gân rung thịt máy).
Phương này dùng Bạch phụ tử để tán phong tà ở vùng đầu mặt, Cương tàm khư phong đàm, Toàn yết tức phong trấn kinh, hai vị này hợp dụng, có công năng sưu phong thông lạc. Nếu dùng rượu mà uống thuốc, thì dẫn được sức thuốc của ba vị thượng hành. Đến thắng nơi có bệnh ở đầu mặt. (1) Khiên: Dắt tức là dẫn cho qui về chính khí. Phương này thích lợp chữa các chứng phong. Đàm làm trở ngại kinh lạc vùng đầu mặt. Không có chứng trạng toàn thân. Cổ nhân cho rằng 3 vị trên chạy thẳng lên lạc mạch vùng đầu mặt, khư phong hóa đàm, rất là đắc lực, không cần gia thêm vị thuốc khác. Nhưng nếu khí hư huyết ứ, hoặc xen phong nội động mà dẫn đến mồm mắt méo xệch (khẩu nhỡn oa tà). Hơn nữa 1 chi hoặc nửa người không cử động được, thì phương này không thể chuyên trị được.
NGÂN KIỀU THẠCH HỘC THANG
« Bài thuốc kinh nghiệm của bệnh viện Thu Quang - Thượng Hải »
Ngày dùng 1 thang, sắc nước chia 2 lần uống.
Dưỡng âm tư thận, thanh nhiệt giải độc.
Cảm nhiễm mạn tính ở đường tiết niệu thận âm suy tổn.
Trong thực tiễn điều trị, phát hiện phần lớn bệnh nhân mắc chứng cảm nhiễm mạn tính ở đường tiết niệu đều bị thận hư (đặc biệt là thận âm hư) mà bồi dưỡng đường tiết niệu phần nhiều là dương tính. Vì vậy, dùng Lục vị địa hoàng hoàn để dưỡng âm tư thận, dùng Ngân hoa, Liên kiều để thanh nhiệt giải độc, gia thêm Thạch hộc vì loại bệnh nhân này phần lớn miệng khô môi táo để tăng thêm dưỡng âm sinh tân. Sau một thời kỳ dùng bài thuốc này, bệnh trạng chuyển tốt rõ rệt.
Sốt cơn sau trưa, mặt đỏ thăng hỏa, tiểu tiện nóng có thể gia thêm Hoàng bá, Tri mẫu để tư âm giáng hỏa, thanh lợi thấp nhiệt ở hạ tiêu, túi thận tích thủy, mặt phù, tiểu tiện không lợi có thể thêm Ngưu tất, Xa tiền, rêu lưỡi dày nhờn, dạ dày không tiêu nên bỏ Thục địa, gia thêm Thương, Bạch truật, Hậu phác, Lục thần khúc; sắc mặt hoảng hốt, tinh thần mệt mỏi, sợ lạnh, lưỡi nhạt có thể thêm tiêu mao, Tiên linh tỳ, Hồ lô ba để ôn thận; đi đái vặt, đái gấp, đái bị đau có thể dùng Sinh địa, Mộc thông hoặc hợp chung với bài Bát chính tán để lợi thủy thông đái; sau khi việc bồi dưỡng đường tiết niệu chuyển sang âm, có thể dùng Tri tá bát vị hoàn, Lục vị địa hoàng hoàn, Kiện tỳ hòa vị hoàn (Tên cũ là: Hương sa lục quân tử hoàn) để kiện tỳ hòa vị, bổ thận tăng thêm sức khỏe.