Gợi ý ngẫu nhiên (10 bài thuốc)
QUẤT BÌ TRÚC NHỰ THANG
(Phụ: Tế sinh quất bì trúc nhự thang) « Kim quỹ yếu lược »
- Quật bì (tức Trần bì) 8-12 gam
- Trúc nhự 8 gam
- Gừng sống 3 lát
- Nhân sâm (hoặc Đảng sâm) 8-12 gam
- Chích cam thảo 4 gam
- Đại táo 3 quả
Ngày dùng 1 thang, đun sắc chia 2 lần uống.
Hòa vị giáng nghịch bổ hư.
Vị hư bị nấc, nôn khan (buồn lợm).
Bài này dùng Nhân sâm, Cam thảo, Đại táo bổ vị hư, Trần bì hòa vị, lý khí, Trúc nhự thanh vị nhiệt, giáng nghịch khí phối hợp tạo thành, chữa chứng bệnh vị hư hơi thiên về nhiệt mà gây nên bị nấc, nôn khan. Trong lâm sàng thường dùng Trần bì, Trúc nhự (sao nước gừng) gia vào các bài thuốc khác để chữa nôn mửa, ợ hơi.
Tế sinh quất bì trúc nhự thang: Tức là bài này gia Phục linh, Bán hạ, Mạch môn đông, Tỳ bà diệp (sao thơm). Bán hạ, Phục linh, Tỳ bà diệp hóa đàm, hòa vị, giáng nghịch, Mạch môn đông dưỡng vị âm, dù để bổ vị, thanh nhiệt, giáng nghịch thì sức thuốc vẫn mạnh hơn so với nguyên bài trong « Kim quỹ ».
HẮC TÍCH ĐAN
HOẮC HƯƠNG CHÍNH KHÍ TÁN
ĐƯƠNG QUY TỨ NGHỊCH THANG
TÔ TỬ GIÁNG KHÍ THANG
« Hòa tễ cục phương »
- Tô tử sao 12-16 gam
- Bán hạ 8-12 gam
- Chích thảo 4 gam
- Nhục quế 2-4 gam
- Tiền hồ 8 gam
- Trần bì 8-12 gam
- Hậu phác 4-8 gam
- Đương quy 12 gam
- Sinh khương 3 lát
- (Có phương không có Quế, mà có Trầm hương).
Ngày 1 thang, sắc nước chia 2 lần uống.
Giáng khí bình suyễn, ôn hóa hàn ẩm. Trần bì 8-12 gam Hậu phác 4-8 gam Đương quy 12 gam Sinh khương 3 lát Chủ trị: Bệnh nhân có đàm ẩm, lại cảm ngoại hàn, thành chứng thượng thực hạ hư, khái thấu, suyễn gấp, ngắn hơi, tức ngực, đờm nhiều, mình lạnh, rêu lưỡi trắng dầy.
Đây là phương thuốc trị ho suyễn do thượng thực hạ hư. Thượng thực là nói đàm thấp ủng tắc ở phế, gây ho, suyễn, đờm nhiều, nên dùng Tô tử làm chủ dược, phụ trợ có Tiền hồ, Hậu phác, Trần bì, Bán hạ, Sinh khương đều để giáng khí kiêm trừ đàm, sơ thông được chứng thượng thực. Hạ hư là chỉ bệnh nhân nguyên do đàm ẩm ho lâu ngày có chứng thận hư ngắn hỏa, nên dùng Nhục quế, ôn thận nạp khí. Còn như dùng Đương quy trong phương, một là quy có công năng trị được suyễn nghịch thượng khí (Bản thảo kinh), hai là nhân đàm ẩm lâu ngày thành hư, nên phối Quy với Cam thảo trong hàng ngũ lý khí, Quy thảo sẽ điều thuận được khí, Đương quy trở thành vị thuốc ích khí dưỡng huyết, làm lợi ho sự thuẫn khí giáng nghịch, đó là cái tài vô cùng độc đáo của phương này. Tóm lại phương này dựa trên pháp sơ nạp tinh dung, nhưng lấy sơ thông làm chủ, dùng pháp chế thận đồng trị nhưng lấy trị phế làm chủ, thượng thực hạ hư đồng trị nhưng lấy giáng khí hóa đàm để trị thượng thực làm chủ, khác với phương Hắc tích đan là thuốc ôn thần nạp khí cũng chữa chứng thượng thực hạ hư, nhưng trị hạ hư làm chủ, (xem chương 21). Trên lâm sàng dùng phương này chữa viêm phế quản mạn tính lại cảm thủ ngoại tà gây ra ho ngắn phơi, hung cách bĩ muộn, tình thế nghiêm trọng, sợ lạnh, phát sốt... lấy phương này tán hàn, hóa đàm giáng nghịch, càng dùng càng thấy thần kỳ.
NHẤT QUÁN TIỄN
TẢ TÂM THANG
(Phụ: Phụ tử tả tâm thang) « Kim quỹ yếu lược »
- Đại hoàng 6-12 gam
- Hoàng liên 4-12 gam
- Hoàng cầm 8-16 gam
Ngày dùng một thang, sắc nước chia 2 lần uống.
Tả hỏa, thanh nhiệt, giải độc.
Mọi chứng hỏa thực nhiệt. Như đang mắc bệnh ngoại cảm nhiệt, bị sốt cao, mặt hồng, mắt đỏ, buồn bực, hôn mê phát cuồng, rêu lưỡi vàng nhờn, lưỡi có gai đỏ vì nóng quá làm huyệt đi lung tung nên thổ huyết, chảy máu mũi, thấp nhiệt nung đốt mà sinh bệnh hoàng đản; mụn nhọt chảy nước, vàng bị bị đơn sưng tấy, mắc chứng bại huyết, mặt mắt sưng đỏ, miệng lưỡi lở toét, đi lỵ ra máu nhờn, đều có thể dùng bài thuốc này.
Bài này tuy lấy tên là “Tả tâm thang” nhưng thực tế không phải chuyên trị tả tâm hỏa mà là tả mọi thực hỏa, giải nhiệt độc, thanh thấp nhiệt. Trong bài này tuy lấy Đại hoàng là thuốc chủ nhưng mục đích không phải chuyên để công hạ mà là để tiết nhiệt, tả hỏa, giải độc. “3 vị hoàng” dùng ở đây, dược tính khổ hàn, có thể tiết nhiệt, táo thấp, nên thích hợp chữa các bệnh tháo nhiệt cản trở tràng vị, uất mà hóa hỏa, rêu lưỡi vàng nhờn hoặc nổi gai vàng, sốt cao, buồn bực, tức ngực, ứ chướng, bí đại tiện. Trong “Thương hàn luận” dùng bài thuốc này để tiết nhiệt trừ tức ách là có nghĩa như vậy. Còn ở “Kim quỹ yếu lược” dùng bài thuốc này để tiết nhiệt trừ tức ách là có ý nghĩa để đạt tác dụng tả hỏa, tiết nhiệt, giải độc. Tà đi thì chính an, nhiệt độc giải rồi thì huyết ngừng ra, khác với việc lương huyết tán huyết ở bài Tê giác địa hoàng thang, lúc sử dụng cần phân biệt rõ. Với các vị thuốc khổ hàn, trong thực nghiệm chữa bệnh diệt vi trùng ở ngoài thân thể thấy rõ tác dụng diệt trùng, kết quả điều trị cho thấy nó có chất chống vi trùng.
Lúc ứng dụng bài thuốc này để chữa cả thấp lẫn nhiệt thì phải coi nhiệt nặng hơn thấp hoặc thấp nhiệt hóa hỏa mới phù hợp. Nếu thấp nhiệt hóa hỏa, nhiệt đốt tâm dịch, thấy có triệu chứng tâm dịch bị tổn thương (miệng khô, lưỡi táo) có thể thêm Thiên hoa phấn, Lô căn, thậm chí có thể gia Thạch hộc tươi, Sinh địa tươi, nếu thấp nhiệt hóa hỏa mà cả thấp và nhiệt đều nặng ngang nhau, thấy rêu lưỡi dày nhờn, ngực tức, ách chướng có thể thêm Hậu phác, Bán hạ; nếu bị nôn mửa nhiều mà khó uống thuốc, có thể thêm 3 lát gừng tươi; bụng đầy không nhiều, đại tiện bình thường có thể dùng Đại hoàng chế; người bị đau bụng trên dữ dội (như viêm túi mật cấp tính) có thể thêm Chỉ xác hoặc Chỉ thực, Xuyên luyện tử, Diên hồ sách, đó là những vị thuốc lý khí chỉ thống. Bài phụ: Phụ tử Tả tâm thang: Tức là bài này gia Phụ tử. Dùng cho những người bị tà nhiệt bốc mạnh mà dương khí không đủ, ra mồ hôi nhiều, chân tay lạnh, mạch nhỏ.
ÂM GIÁC PHỤC MẠCH THANG
« Ôn bệnh điều biện »
- Mẫu lệ 40 gam
- Miết giáp 20-40 gam
- Quy bản 20-40 gam
- Chích thảo 12 gam
- Đại sinh địa 20-40 gam
- Sinh bạch thược 12-24 gam
- Mạch đông 12-24 gam
- Ma nhân 12 gam
- A giao 16 gam
Ngày dùng 1 thang sắc nước chia 2 lần uống.
Tư dưỡng tinh huyết, dục âm tiềm dương tức phong, trấn kinh. Chủ trị: Sau khi ngoại cảm nhiệt bệnh, có chứng thương âm lưỡi đen, mạch tế sác vô lực, lòng bàn tay bàn chân nóng, kinh quyết, hoặc tay chân run rẩy, hồi hộp, hoặc tạp bệnh có chứng can thận bất túc, âm hư dương cang, xuất huyết, đầu váng mắt hoa, tai ù hạng khô, mạch tế huyền, lưỡi khô, trơn bóng.
Đây là phục mạch thang (Chích thảo, Can địa hoàng, Sinh bạch thược, Mạch đông, A giao, Ma nhân) gia Mẫu lệ, Miết giáp, Quy bản. Dùng Chích thảo phục hồi mạch. Phò tá có các thuốc tư nhuận, bổ âm lui được hư nhiệt. Lại gia thêm Mẫu lệ, Miết giáp, Quy bản để tiềm dương trấn kinh gọi là dục âm (nuôi dưỡng âm) tiềm dương, dưỡng huyết an thần, trị huyết hư âm tổn, phong dương vọng động.
Gia giảm: Bản phương thuần thuốc nhu nhuận, nên trong quá trình ngoại cảm nhiệt, nếu là nhiệt quá thịnh mà kinh quyết, nhiệt cực động phong là có thực chứng nên dùng Thanh vinh thang, hoặc Hoàng liên a giao thang gia Linh dương, Câu đằng, Tử tuyết đan, không nên dùng phương này, Trong phương, Quy bản, Miết giáp, Mẫu lệ, trừ Mẫu lệ ra, đều là vị nhu nhuận cho nên bất tất dùng cả. Nhu nhị giáp phục mạch là phương này bỏ Quy bản. Nhất giáp phục mạch thang là phương này bỏ Quy bản, Miết giáp, Ma nhân. Nếu mạch lui, tinh thần mệt mỏi muốn hư thoát, nên gia Ngũ vị tử, Kê tử hoàng gọi là “đại định phong châu” (hạt ngọc quí định được phong) có thể gia cả Nhân sâm (tức là Sinh mạch tán hợp dụng).
Linh dương giác thang: Linh phương giác, Quy bản, Sinh địa, Đan bì, Bạch thược, Sài hồ, Bạc hà, Thiền thoái, Cúc hoa, Hạ khô thảo, Thạch quyết minh. Phương này khác phương “Tam giáp phục mạch thang”: Tam giáp phục mạch trọng về tu dưỡng tinh huyết, nuôi âm tiềm dương. Còn phương trên một mặt dùng Địa hoàng, Cúc hoa, Quy bản để dục âm tiềm dương, mặt khác tập trung dùng Linh dương giác, Đan bì, Bạc hà, Thiền thoái, Cúc hoa, Hạ khô thảo, Thạch quyết minh, Sài hồ là trọng về bình can tức phong, trị chứng can thận bất túc, can dương thượng cang, can phong nội động biểu hiện các chứng: đau đầu chóng mặt kịch liệt mặt mắt môi lưỡi đều run, nặng nữa thì tứ chi co giật.